Trương Văn Thám
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một nhân vật lịch sử: Trương Văn Thám là tên khai sinh của một vị anh hùng dân tộc Việt Nam, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
- Biểu tượng của tinh thần bất khuất: Tên ông thường được nhắc đến như một biểu tượng cho ý chí kiên cường, mưu lược và tinh thần quật khởi chống ngoại xâm.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Trương Văn Thám là một trong những thủ lĩnh kiệt xuất của phong trào Cần Vương.
- Cuộc đời và sự nghiệp của Trương Văn Thám là một trang sử hào hùng của dân tộc.
Các cách sử dụng nâng cao
- "Hùm xám Yên Thế": Đây là biệt danh dân gian dành cho Trương Văn Thám, thể hiện sự dũng mãnh, uy lực và khiến kẻ thù khiếp sợ của ông tại chiến khu Yên Thế.
- "Đề Thám": Tên gọi tôn kính trong dân gian dành cho Trương Văn Thám với tư cách là một vị chỉ huy (Đề lĩnh) tài ba.
Biến thể và từ liên quan
- Hoàng Hoa Thám: Tên gọi phổ biến và được sử dụng chính thức hơn trong sử sách để chỉ nhân vật Trương Văn Thám.
- Khởi nghĩa Yên Thế: Chỉ cuộc kháng chiến chống Pháp do Trương Văn Thám (Hoàng Hoa Thám) lãnh đạo, kéo dài gần 30 năm.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
- Hoàng Hoa Thám: Tên gọi chính thức, phổ biến.
- Đề Thám: Danh xưng trong dân gian.
- Hùm xám Yên Thế: Biệt danh thể hiện khí phách.
Thành ngữ / Cụm từ liên quan
- Tinh thần Hoàng Hoa Thám: Cụm từ thường dùng để chỉ tinh thần bất khuất, kiên trường chống giặc ngoại xâm, mưu lược và không bao giờ đầu hàng.
- Vùng đất Đề Thám: Chỉ địa bàn hoạt động, căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Yên Thế do Trương Văn Thám lãnh đạo.
- (Mậu ngọ 1858 - Quí sửu 1913)
- Anh hùng kháng Pháp, tức Hoàng Hoa Thám. Thuở trẻ còn có tên là Trương Văn Nghĩa, con Trương Văn Thân và Lương Thị Minh, quê làng Dị Chiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc Hải Hưng)
- Ông lập chiến khu ở vùng Yên Thế thuộc Bắc Giang (nay là Hà Bắc) nghiễm nhiên là vị Đề lĩnh kiệt hiệt trong phong trào Cần vương, nên tục gọi là Đề Thám với hỗn danh là Hùm xám Yên Thế
- Từ năm 1886, ông trở thành lãnh tụ nghĩa quân Yên Thế với chiến khu và địa bàn hoạt động quanh vùng Bắc Giang - Thái Nguyên - Hưng Hóa, khiến giặc Pháp kinh hoàng. Giặc Pháp phối hợp với Tổng đốc tay sai Lê Hoan một mặt đàn áp một mặt chiêu hàng, nhưng chúng vẫn không dẹp được ông. Đến năm 1894 chúng chịu điều đình và cắt nhượng cho ông 6 tổng gồm 22 làng ở Phồn Xương để ông lập đồn điền, lập khu tự trị đưa đến giải trừ quân bị
- Nhưng thật sự ông chỉ trá hàng chứ không buông vũ khí. Năm 1905 sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phạm Văn Ngôn (Tú Nghệ) ông lại vùng lên kháng chiến chống Pháp quyết liệt hơn trước, địa bàn hoạt động cũng mở rộng hơn với tổ chức" Đảng Nghĩa Hưn"g và" Trung chân ứng nghĩa đạ"o do ông làm lãnh tụ, từ đấy suốt 8 năm ông tiếp tục chiến đấu, gay tổn thất nặng cho quân Pháp và toán quân tay sai do Lê Hoan cầm đầu
- Cuối cùng đêm 10-2 năm Quí sửu (18-3-1915) ông bị thuộc hạ là Lương Tam Kì phản bội ám sát ông tại một nơi cách chợ Gồ 2 cây số, hưởng dương 55 tuổi